Sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Con chung vẫn có đầy đủ quyền với cha mẹ như mọi đứa trẻ khác, nhưng tài sản thì chỉ được giải quyết theo thoả thuận hoặc theo phần đóng góp mà mỗi người chứng minh được, và hai người không thừa kế của nhau theo pháp luật.
Chào bạn, đây là Nhà Luật Học. Có nhiều lý do khiến người ta sống chung mà chưa đăng ký: chưa sẵn sàng, ngại thủ tục, hay một người còn vướng một cuộc hôn nhân cũ chưa xong. Tập này không phán xét, chỉ nói rõ những gì pháp luật nhìn thấy và những gì nó không thấy.
Pháp luật nhìn hai người sống chung như thế nào?
Trước pháp luật, hai người sống chung không đăng ký là hai cá nhân độc lập có quan hệ tình cảm, chứ không phải vợ chồng. Không có tài sản chung vợ chồng, không có nghĩa vụ cấp dưỡng giữa hai người khi chia tay.
Điều này đúng dù hai người đã sống với nhau mười năm, có đám cưới, được cả xóm gọi là vợ chồng.
Có ngoại lệ cho một số trường hợp chung sống từ rất lâu theo các quy định chuyển tiếp của luật hôn nhân qua các thời kỳ. Nếu gia đình bạn thuộc thế hệ trước, hãy hỏi luật sư xem có rơi vào ngoại lệ không.
Hiểu được điểm này, bạn sẽ thấy vì sao những giấy tờ khác trở nên quan trọng hơn với người sống chung.
Con cái được bảo vệ ra sao?
Luật không phân biệt con sinh ra trong hay ngoài hôn nhân. Con có quyền được cha mẹ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, thừa kế của cha mẹ như mọi người con khác.
Vấn đề nằm ở chỗ xác định cha. Với con sinh ra khi cha mẹ không đăng ký kết hôn, muốn có tên cha trong giấy khai sinh thường phải làm thủ tục nhận cha con, có khi cần thêm chứng cứ như kết quả giám định.
Nếu hai người còn sống chung và người cha hợp tác, thủ tục nhận cha con ở cơ quan hộ tịch khá đơn giản. Nếu đã chia tay, người cha không hợp tác, người mẹ có thể phải nhờ toà án xác định cha cho con.
Khi chia tay, việc ai nuôi con và cấp dưỡng cho con được giải quyết giống như khi vợ chồng ly hôn, vì đó là quyền của đứa trẻ chứ không phụ thuộc giấy đăng ký của cha mẹ.
Tài sản tạo ra trong thời gian sống chung
Khi chia tay, tài sản không được chia theo nguyên tắc tài sản chung vợ chồng. Hai người tự thoả thuận; không được thì toà giải quyết theo luật dân sự, tức theo phần mỗi người đóng góp.
Ví dụ hai người cùng góp tiền mua một căn nhà đứng tên người nam. Nếu người nữ chứng minh được mình đã góp tiền, toà có thể xác định chị có phần trong căn nhà. Nếu không chứng minh được, chị rất khó đòi.
Công sức nội trợ, chăm con thường khó được tính bằng tiền trong quan hệ sống chung như cách luật tính trong hôn nhân. Đây là chỗ người ở nhà dễ thiệt nhất.
Vì thế người sống chung nên đứng tên chung tài sản lớn, hoặc có giấy xác nhận góp vốn, giữ chứng từ chuyển tiền. Tờ giấy nhỏ hôm nay là chỗ dựa lớn khi có chuyện.
Thừa kế: người sống chung không nằm trong hàng thừa kế
Khi một người mất mà không có di chúc, di sản chia theo hàng thừa kế. Người sống chung không đăng ký không phải vợ hay chồng nên không có tên trong hàng nào.
Hệ quả rất đau lòng: người đã sống bên cạnh suốt nhiều năm có thể không nhận được gì, trong khi cha mẹ hay anh chị em của người mất lại là người thừa kế.
Cách bảo vệ là di chúc. Một người hoàn toàn có thể để lại tài sản cho người mình chung sống bằng di chúc hợp lệ, tất nhiên vẫn phải tôn trọng phần của những người thừa kế bắt buộc như con chưa thành niên, cha mẹ.
Phần tài sản người còn sống đã góp vào tài sản chung với người mất thì vẫn là của họ, nhưng họ phải chứng minh được phần góp đó với những người thừa kế.
Nếu một người còn đang có vợ hoặc có chồng
Đây là tình huống phức tạp hơn. Người đang có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác là vi phạm chế độ một vợ một chồng, có thể bị xử phạt, nặng hơn có thể bị xử lý hình sự trong một số trường hợp.
Tài sản của người đó trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp vẫn là tài sản chung với vợ hoặc chồng hợp pháp. Người sống chung rất dễ rơi vào thế yếu khi có tranh chấp.
Con sinh ra trong hoàn cảnh này vẫn được bảo vệ đầy đủ như mọi đứa trẻ khác.
Nếu bạn đang ở trong hoàn cảnh này, hãy tìm một luật sư để hiểu vị trí pháp lý của mình trước khi có thêm cam kết lớn. Câu hỏi để lại: nếu ngày mai mọi chuyện thay đổi, tờ giấy nào đang bảo vệ bạn?
Câu hỏi thường gặp
Sống chung lâu năm có được coi là vợ chồng không?
Thông thường là không, nếu không đăng ký kết hôn. Chỉ một số trường hợp chung sống từ rất lâu theo quy định chuyển tiếp mới được công nhận. Thời gian sống chung dài không tự biến hai người thành vợ chồng trước pháp luật.
Người sống chung có được đứng tên chung trên sổ đỏ không?
Được. Hai người có thể cùng đứng tên là đồng sở hữu, đồng sử dụng khi cùng nhận chuyển nhượng. Đây là cách bảo vệ quyền lợi rõ ràng nhất cho cả hai.
Chia tay thì có phải cấp dưỡng cho người kia không?
Giữa hai người sống chung không đăng ký không có nghĩa vụ cấp dưỡng như giữa vợ chồng. Nhưng nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung vẫn tồn tại đầy đủ.
Làm giấy khai sinh cho con mà không có tên cha có được không?
Được. Giấy khai sinh có thể để trống phần cha, sau này bổ sung khi làm thủ tục nhận cha con. Con vẫn được hưởng đầy đủ quyền được đi học, khám chữa bệnh.
Sống chung rồi mới đăng ký thì tài sản trước đó tính sao?
Tài sản tạo ra trước ngày đăng ký kết hôn không đương nhiên là tài sản chung vợ chồng. Hai người có thể lập văn bản thoả thuận đưa những tài sản đó vào tài sản chung nếu muốn.